Nhu Cầu Sinh Thái và Tác Dụng Của cây đu Đủ – Phần 2

Nhu cầu sinh thái của cây đu đủ

– Khí hậu:

Cây đu đủ cần nhiệt độ ấm áp khoảng 25°c với lượng mưa l00mm/tháng. Cây cần trồng nơi đủ ảnh sảng để đậu quà và cho quả có phẩm chất cao. Nhiệt độ và độ ẩm không khí) quá cao hoặc quá thấp đều làm giảm khả năng đậu quà của đu đủ.

đu đủ sợ sương muối, ở nhiệt độ -2°C cây phát triển kém. đình trệ và chết; ở 15°c cây ngừng sinh trường: vào mùa rét đu đủ kém ngọt và quả nhỏ. ở đồng bằng sống cửu Long, vào các tháng quá kbổ (tháng 2 đến tháng 4 dương lịch) thường thiểu nước, hay vào mùa mứa (tháng 6 đến tháng 10 dương lịch) thiếu ảnh náng. mưa nhiều (250 – 300 mm/tháng) gây úng rễ đều làm đu đủ sinh trường kém, ít đậu quả và giảm năng suất.

Đất đai:

Cây đu đủ không chịu phèn, rễ mọc cạn và chịu úng kém, do đó cần chọn đất không phèn pH – 5.5 – 6,5), tơi xốp, dễ thoát nước (giữ nước trong mương sâu 50 -60 cm, cách mặt líp). Đất tốt, chứa nhiều dinh dưỡng ở lởp mặt.

– nước: Cây đu đủ có khối lượng lá lởn, sinh trương liên tục, thoát hơi nước nhiều cho nên cây rất cần nước. Đu đủ chịu hạn kém nhưng lại không chịu được úng ngập.

– ảnh sảng: Đu đủ thích ảnh sảng, đặc biệt trước khi chín 5 – 7 ngày yêu cầu ảnh sảng lại càng cao. Nếu được đáp ứng đầy đủ và sẽ cho độ đường trong quả cao, quả ngọt. Những vùng kbổ hạn nhiều nắng, đủ nước tưởi rất thích hợp để trồng đu đủ.

Một số tác dụng của cây đu đủ

Ngay từ khi phát hiện ra châu Mỹ. nhà thám hiểm lửng danh Christophe Columbus dã tôn vinh đu đủ là chúa tể của các loài quả (fruit of the angels) bơi no có hương vị thơm ngon, dề ăn và có tác dụng chứa bệnh rất tốt. Một trong những hợp chất hẳng đầu của đu đủ là Papain, đây là loại onzym có lợi cho hệ thống tiêu hóa của con người, hạn chế virus, VI trùng gây bệnh.

• Thành phấn dưỡng chất chính:

đu đủ tên khoa học là Carica Papava L. cao khoảng 6 – 7m, lá có nhiều ở phấn ngọn, chia làm 6 -7 thùy hình trứng, mép có răng cưa, lá to, cuống rỗng dài 30 – 50 cm, hoa có màu tráng nhạt, quả hình trứng dài 20 – 30 cm, đường kính 15 – 20cm, lúc đầu có mâu xanh, khi chín chuyển sang màu vàng. Khi chín, quà đu đủ có chứa 90% nước, 13% đường, không có tính bột, nhiều caretenoid acid hữu cơ, các loại vitamin A, vitamin B, vitamin c, protein; 0,9% chất béo, xenlulo; 0,5% canxi, magiê và các chất đạm chống oxy hóa nên có tác dụng tốt cho hệ thông tim mạch, ngắn ngừa bệnh ung thư kết tràng. Ngoài ra, đu đủ còn có chứa nhiều papain, loại enzym rất hữu ích giống như bromelain có trong dứa, tốt cho tiêu hóa, chữa chấn thường, dị ứng…

* RDI {Recommended Daily Intake): Nhu cầu tiêu thụ trong một ngày do FDA Mỹ đề xuất, thìết lập dựa trên nhu cầu trung bình của một người nam, nặng 70 kg, mức năng lượng tiêu thụ 2.700 kcal/ngày.

– Tác dụng bào vệ tun mạch:

Theo rất nhiều nghiên cứu cho thấy, đu đủ có tác dụng tốt trong việc phòng ngứa bệnh tim mạch ở những người mắc bệnh đái tháo đường, bệnh xơ vữa động mạch. Vì đu đủ có chứa nhiều chất chống oxy hoa như vitamin c, vitamin E va vitamin A. các dưỡng chất này có tác dụng ngăn ngừa quá trình oxy hoa cholesterol, hạn chế các máng tiểu cầu do quá trinh oxy hóa cholesterol tạo ra bám vào thành mạch máu, gây tắc nghẽn mạch và làm máu không lưu thông được. Vitamin E và vitamin c của đu đủ kết hợp tạo ra hợp chất có tên là Paraoxonase, hay còn gọi là enzym, có thể ức chế quá trình oxy hóa tạo ra các cholesterol xấu (LDL). Ngoài ra. đu đủ còn là loại quà giàu chất xơ nên có tác dụng làm giảm mỡ máu (cholesterol), riêng acid folic có trong đu đu có tác dụng làm chuyển hóa homocysteine thành acid amino cần thiết như cysteine hoặc methìonine. Nếu không được chuyển hóa thì homocysteine có thể gáy phá hủy trực tiếp các mạch máu, thậm chí nếu cao có thể gây bệnh đau tim hoặc đột quỵ.

– Tăng cường sửc khỏe cho hệ tiêu hóa:

Từ lâu, khoa học đã nghiên cứu và phát hiện thày ăn đu đủ có tác dụng tốt trong việc ngăn ngứa bệnh ung thư kết tràng. Chất xơ có trong đu đủ có thể thu gom cac độc tố gây bệnh trong kết tràng và báo vệ tế bào khỏe mạnh trước nguy cơ bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, trong đu đó còn có chứa các dưỡng chất như: folate, vitamin c. beta-carotene, vitamin E có tác dụng giảm thiểu bệnh ung thư kết tràng, đặc biệt là ngắn ngừa sự tấn công của các gốc tự do gây tốn thường ADN. Vì vậy. tăng cường ăn đu đủ cũng là biện pháp phòng ngừa ung thư kết tràng rất tốt cho mọi người.

– Thuốc chống viêm nhiễm:

Trong đu đủ có chứa 2 hợp chất quan trọng có tên là papain và chymopapain, đây là 2 loại enzym tiêu hóa protein hiệu quả, có tác dụng làm giảm quá trình viêm nhiễm và làm lành các chấn thường. Ngoài ra, đu đu còn có chứa nhiều vitamin c, vitamin E và beta-carotene nên có tác dụng phong ngừa viêm nhiễm ở mức cao nhất, bởi vậy những người bị bệnh hen suyễn, thấp khởp thường được bác sĩ kê đơn cho Dùng các dưỡng chất nói trên.

– Tăng cường sức đề kháng:

Vitamin c và vitamin A do đu đủ cung cấp cho cơ thể sẽ giúp hệ miễn dịch làm việc tốt hơn, đặc biệt là co thể phòng chống các loại bệnh thường xuất hiện khi giao mùa như; cảm, cúm, viêm tai…

– Ngăn ngừa nguy cơ thoái hóa điểm vàng;

Trên tạp chí Nhãn khoa (AOO) của Hoa Kỳ số ra đầu năm 2009 đã khuyến cáo mọi người nên ăn 3 xuất rau xanh hoa quá mỗi ngày (mỗi xuất tương đương 1 bát nhỏ), sẽ giảm được nhiêu nguy cơ mác bệnh thoái hóa điểm vàng có liên quan đến tuổi tác (AMRD). Cụ thể làm giảm được bởi 36% nguy cơ so với những người chỉ ăn 1-1,5 xuất. Loại hoa quà tốt nhất có thể ngăn ngừa bệnh ARMD bao gồm; cà rốt, đu đủ vì đây là những loại quả có chứa nhiều vitamin c, vitamin A, vi ta min E, carotenoid, chất chống oxy hóa. có thể chế biến đu đủ dưới dạng sa lát, nước ép hoặc ăn trực tiếp.

– Giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp:

Mặc đủ sử dụng liều cao vitamin c có thể làm tăng nguy cơ bệnh loăng xương nhưng vitamin c có trong thực phẩm, đặc biệt là trong đu đủ lại có tác dụng bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh polyarthìritis – một dạng bệnh viêm khởp dạng thấp. Kết luận trên được dựa theo nghiên cứu với hơn 20.000 người sử dụng vitamin c có trong đu đủ và phát hiện thấy có tác dụng rất cao trong việc ngăn ngừa viêm nhiễm gây đau nhức ở người bệnh.

– Tăng cường chức năng phổi:

Những người nghiện hút thuốc lá hoặc phải sống trong môi trường có khói thuốc (hút thuốc thụ động) thì nên bổ sung thực phẩm giàu vitamin A. trong đó có đu đủ. Theo nghiên cứu của các chuyên gia ở Đại học Kansas (Hoa Kỳ) cho thấy, đây là dưỡng chất có tác dụng ngăn ngừa bệnh viêm nhiễm phổi và bệnh khí phế thùng (enpbysema) do hợp chất carcinogen và benzopyrene trong khói thuốc lá gây ra, nó làm tăng nguy cơ thiếu hụt vitamin A ở con người, nhất là ở nhóm người cao tuổi.

– Thuốc ngừa ung thư tiền liệt tuyến:

Sử dụng thường xuyên thực phẩm giàu lycopen như đu đủ và uống chè xanh đều đặn sẽ có tác dụng tích cực đối với đàn ông trong việc giảm thiểu bệnh ung thư tiền liệt tuyến. Đây là khuyến cáo mới nhất công bố trên tạp chí Dinh dưỡng lâm sàng Châu A -Thái Bình Dương số ra tháng 2 vừa qua, dựa trên nghiên cứu ở bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến đang điều trị tại 274 bệnh viện. Theo đó. những người có thói quen uống chè xanh giảm được 86% nguy cơ mắc bệnh so với những người không dùng chè xanh; còn những người có thói quen ăn các loại thực phẩm giàu lycopen như: đu đủ, cà chua, cà rốt, nho thẫm màu, dưa hấu… thì giảm được bởi 82% nguy cơ mắc bệnh ung thư tiền liệt tuyến so với nhóm người không ăn các thực phẩm này. Bởi vậy, các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo đàn ông nên Tăng cường sử dụng 2 loại thực phẩm nói trên để hạn chế nguy cơ mắc bệnh.\

– Lá đu đủ chống ung thư:

Các nhà khoa học Nhật Bản và Mỹ vừa phát hiện thêm một tác dụng mới của cây đu đủ: Chất chiết xuất từ lá đu đủ có khả năng diệt tế bào ung thư. Kết quả nghiên cứu mới này được đăng tải trên Tạp chí được lý dân tộc của Nhật Bản. Theo phát hiện mới của nhóm nghiên cữu gồm các nhà khoa học của Văn phòng thí nghiệm lâm sàng thuộc Trung tâm Ung thư, Đại học Florida. Mỹ và Đại học Tokyo, chất chiết xuất từ lá đu đủ có khả năng kháng ưng thư và hiệu quả này tương thích với tất cả các tế bào ung thư được gây dựng trong phòng thí nghiệm, gồm ung thư có tử cung, ung thư buồng trứng, ung thư gan, phổi, ung thư tuyến tụy.

Khi cho 10 loại tế bào ung thu khác nhau tiếp xúc với chất chiết xuất này, 24 giờ sau có thể thấy tốc độ phát triển của tế bào chậm hẳn lại. và nêu nồng độ chất chiết xuất càng cao, hiệu quả kháng tế bào ung thư, thậm chí giết chết nó càng rõ rệt. Cũng trong một thí nghiệm tương tự, các nhà khoa học còn phát hiện ra chất chiết xuất từ lá đu đủ có khả năng thức đẩy tế bào – tế bào đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch sinh trường và phát triển.

Mặt khác, việc sử dụng chất chiết xuất từ lá đu đủ kháng ung thư còn có ưu điểm ơ chỗ nó không mang độc tính và không gâv ra tác dụng phụ. nó có thể tiêu diệt tế bào ung thư song không ảnh hương xấu đến các tế bào khỏe mạnh, vì vậy sẽ tránh được các trường hợp làm tổn thường đến cơ thể người bệnh như khi Dùng các loại thuốc thông thường.

Quan niệm về mối quan hệ giữa đu đủ và thai nghén trong dân gian

Y học dân gian có những bài thuốc, cũng như những kinh nghiệm truyền miệng về những thực hành trong cuộc sống. nó luôn tồn tại và được người dân áp dụng theo và rồi cứ thế hệ này sang thế hệ khác mà trở thành những niềm tin, dù khoa học có thừa nhận hay không. có những dược liệu thảo mộc được sử dụng và lưu truyền trong dân gian đến cả nghìn năm, mà ánh sáng khoa học mới chỉ rọi tới vào những năm cuối của thế kỷ XX như mật ong, cam thảo và đã được xác nhận là có tác dụng chữa một số bệnh.

Một trong những niềm tin tồn tại ở không chỉ Việt Nam mà nhiều nước châu Á khác đó là mối liên hệ giữa quả đu đủ và thai nghén. Bất kỳ một người phụ nữ nông dân Việt Nam nào đến tuổi thai nghén cũng đều được thế hệ đi trước dặn dò là không ăn đu đủ xanh (non) trong khi thai nghén vì có thể bị sẩy thai.

Quả đu đủ là tên gọi do người Việt Nam đặt để chỉ một loại quả cây có tên khoa học là Carica Pap a va Linn. Đu đủ (papaya) thuộc họ nhỏ Caricaceae có hai giống. Họ Caricaceae thường bị xếp chung vào họ Passifloraceae. Trên thường trường tiếng Anh người ta còn gọi Papaya là Paw-paw. Tuy nhiên không nên nhầm lẫn Carica papaya L. với một chủng Annonaceous của Bắc Mỹ Asímina Triloba đunal, có tên là Carica Pentágona Heilborn, hay Babaco. nó khá giống cây Papaya nhưng thấp hơn. quá lại dài hơn, bên trong rất ít hoặc không có hạt. Các tên thông thường khác của quá đu đủ ở các nước khác hay gọi là Chich Put, Fan Kua, Kavunagaci. Lechoso, Lohong Si Phle, Mapaza, Mu Kua, Papaìller, Papaw, Papaye, Papayer, Pawpaw Tree, Pawpaw, Pepol, Tinti, Wan Shou Kuo, Betik petik.Ganđul. Katela gantung. Kates. Repaya. Kuntaia… Còn tại sao Việt Nam có tên gọi là quả đu đu thì hiện nay vẫn là đến đề gây nhiều tranh cãi và chưa có lời giải thích thỏa đáng.

Đu đủ là một loại quả cây nhiệt đới, được trồng nhiều ở các nước Nam Mỹ, Châu Phi, Ấn Độ, Đông Nam Á. Các nước có sản lượng thu hoạch đu đủ cao nhất thế giới là Brazil, tiếp đến là Nigeria, Ấn Độ thứ 2 và Thái Lan đứng hàng thứ 10. Quả đu đủ gắn liền với đời sống người dân Việt Nam từ thủa ấu thơ. quả chín để ăn, quả xanh để làm gỏi đu đủ. nấu
canh. Trẻ em Dùng cọng (cuống lá) đu đủ làm súng đồ chơi, tán lá đu đủ làm chiếc ô chú nắng…

Vẻ mặt dinh dưỡng đu đủ là loại quà cây có đủ chất sat (Fe) và eanxi (Ca), khá giàu vitamin A. vitamin B. vitamin G và rất giàu vitamin c.

Tuy là một loại quả cây có giá trị dinh dưỡng, theo kinh nghiệm dân gian đu đủ được xếp vào nhóm thức ăn tự nhiên không lành nhưng lại có tác dụng của một dược chất.

Kinh nghiệm, trong dân gian và ứng dụng trong công nghệ về đu đủ

Trong dân gian, người ta sử dụng đu đủ để điều trị bệnh lỵ amíp (Entamoeba Histolytica), một loại ký sinh trùng gây tiêu chảy dạng lỵ và biến chứng áp xe gan.

Ở Samoa, người dân dùng phần dưới vở thân cây đu đủ để chữa chứng nhức răng.

Nhựa đu đủ có chứa papain là một trong hai loại men tiêu hủy protein (proteolytic enzymes) có tác dụng làm mềm thịt bắp. Chính tác dụng này mà người ta dùng đu đủ hầm chung với thịt, thịt sẽ mềm hơn. người dân vùng Caribê, Trung Mỹ nói rằng họ có thể ăn một khẩu phần với một số lượng lớn thịt cá nếu sau đó họ ăn thêm đu đủ xanh.

phần cơm của đu đủ là thành phần chính của các loại mỹ phẩm như kem nền (mặt), kem đánh trắng, xà bông gội đầu. Các ứng dụng quan trọng trong y học của nhựa đu đủ là chiết xuất papam để dùng trong phẫu thuật cột sống (là một loại dao phẫu thuật tự nhiên để mở đĩa đệm cột sống). Nghiên cứu còn cho thấy chiết xuất papain còn có hoạt tính kháng sinh (antihiotic activityl có tác dụng chống vi khuẩn gram dương (gram-positive bacteria). Ngoài ra còn được dùng để điều trị lở loét làm tiêu giả mạc trong bệnh bạch hầu; chống kết dính sau phẫu thuật là thuốc giúp tiêu hóa.

Trong công nghiệp papain được dùng để tinh chế xử lý len và lụa trước khi nhuộm là phụ gia trong công nghệ chế biến cao su. Khi tinh chế dầu gan cá người ta tiêm papain vào gan trước khi chiết xuất. làm cho thành phẩm giàu vitamin A và vitamin D hơn. Khoảng 1500 quả đu đủ xanh cỡ vừa cho được khoảng 650g papain.

Niềm tin về ảnh hưởng của đu đủ lên sinh sản và thai nghén

Tác hại được cho là nguy hiểm nhất của đu đủ mà hầu như kinh nghiệm truyền thống của nhiều nước đã đúc kết đó là mối liên quan giữa đu đủ xanh với sinh sản và thai nghén.

Đã từ lâu đời người Ấn Độ đã sử dụng đu đủ xanh (non) cũng như hạt đu đủ để tránh thai, không những ở phụ nữ mà còn ở cả nam giới. Nhiều thế hệ phụ nữ châu Phi. châu Á và châu Mỹ đã sử dụng đu đủ như một loại thuốc tránh thai, trong ngày quan hệ tình dục người phụ nữ ăn đu đủ để ngừa đậu thai, ở Ấn Độ có khá nhiều các nghiên cứu về thái độ và thực hành (attitude and behaviour) ăn uống trong thai nghén. Khi phỏng đến các đối tượng, đu đủ là thành phần được nhắc đến nhiều đáng kể. Một nghiên cứu tiến hành phỏng đến trên 1.106 phụ nữ có thai và cho con bú ở 44 làng tại hai huyện Mahabubnagar và Andhra Pradesh vào những năm 70 cho thấy. 72% cho biết họ tin rằng đu đủ là thức ăn nóng, có hại cho thai nghén. Các nghiên cứu khác tương tự trên số đông phụ nữ (từ 500 đến 1.200) khi phỏng vấn cho rằng đu đu do tác động gây sẩy thai, và trong một nghiên cứu khác cho thấy 35% số người mẹ tránh không ăn đu đủ trong kỳ thai nghén, ở Ấn Độ muốn gây sẩy thai, người ta cho ăn đu đủ non hoặc dùng rẽ cây đu đủ nghiền nát, thêm ít muối vá cho uống.

– Bằng chứng khoa học về mối liên quan giữa đu đủ với sinh sản và thai nghén:

Đứng về mặt bằng chứng khoa học, loại bằng chứng trực tiếp không thể thực hiện được đối với các chất nghi ngờ là có hại cho con người, do đó chỉ có thể nghiên cứu được những bằng chứng gián tiếp. Những bằng chứng gián tiếp này có thể là invitro (nghiên cứu phòng thí nghiệm) hoặc Myiyo (nghiên cứu Trên sinh vật, cụ thể ở đây là động vật thực nghiệm). Nếu các kết quả ủng hộ giả thuyết thì chúng ta có thể suy luận chất nghi ngờ đó có thể có tác động lên cơ thể con người. Cũng có thể tìm mối tương quan này trên con người bằng nghiên cứu quan sát (observation) định hướng (prospective) hoặc hồi cứu (retrospoctiye), loại nghiên cứu có đối chứng (case-control).

Trong vòng 40 năm qua có trên dưới 200 bài báo khoa học viết về tác dụng y học của cây đu đủ trên nhiều mặt được ấn hành, trong số đó có khoảng vài chục bài liên quan đến tác động của đu đủ lên sinh sản và thai nghén. Những nghiên cứu này hầu hết là những nghiên cứu tiến hành trên động vật thực nghiệm và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Các kết quả được tóm tắt sau.

+ Tác dụng tránh thai của quả đu đủ

Một điều ngạc nhiên là quả đu đủ có thể có tác dụng phòng tránh thai không chỉ trên phụ nữ mà còn cả trên nam giời. Năm 1993. một nhóm khoa học gia Anh quốc thuộc Viện đại học Sussex tìm thấy papain có tác dụng làm ngăn cản quá trình thụ thai ở phụ nữ. Qua kết quả nghiên cứu họ đưa ra hai thuyết về tác dụng ngừa thai của quả đu đủ. Thứ nhất là chất papain trong đu đủ có tác dụng ức chế hormone (nội tiết tố) progesterone và làm ngăn chặn quá trình thụ thai; thứ hai là chính tác dụng làm mềm thịt của papain này có thể phá huy màng tế bào thai. Ngoài ra còn có điểm cho rằng phụ nữ ở Sri Lanka muốn tránh thai, chỉ đơn giản là họ ăn đu đủ hàng ngày, và khi muốn đậu thai thì chỉ việc dừng ăn đu đủ.

Trong kinh nghiệm dân gian ở một số nước châu Á cho thấy, không chỉ ở phụ nữ mà nam giới nên ăn đu đủ một thời gian dài cũng có khả năng tránh thai. Các nghiên cứu trên động vật thực nghiệm cũng cho các kết quả lý thú. Hạt đu đủ đã được chứng minh là có hiệu quả tránh thai trên nam giới. Nghiên cứu thực nghiệm trên chuột và thỏ cho thấy các phần chiết xuất từ chloroform có trong hạt đu đủ có tác dụng tránh thụ thai có thể phục hồi được (reversible) trên chuột và thỏ đực mà không có độc tính. Thử nghiệm trên các chất chiết xuất từ hạt đu đủ cho thấy chúng có khả năng ức chế sự di chuyển của tinh trùng trên chuột và giảm sinh tinh trùng trên thỏ. Nghiên cứu gần đây nhất tiến hành theo cùng cách thức với các thí nghiệm trên, trên loài khỉ Langur cho thấy hiệu quả làm giảm sinh tính trùng xuất hiện sau điều trị 90 ngày và khả năng ngừa sinh xuất hiện sau điều trị 30-60 ngày mà không có tác dụng độc tính. Chức năng sinh tinh trùng được phục hồi hoàn toàn sản khi ngừng dùng thuốc 150 ngày. Tuy nhiên về cơ chế hoạt động của các chất chiết xuất từ hạt đu đủ này vẫn còn chưa nhất quán. Các nghiên cứu trước cho thấy có lẽ các tác động này là do tương tác của các hoạt chất lên nguồn estrogen, androgen và antiandrogen. Tuy nhiên trong nghiên cứu sau này trên loài khỉ nêu trên cho thấy số lượng tế bào tinh trùng bất thường đều được tăng lên và cũng như bị bất động hoàn toàn ngay trong giai đoạn đầu điều trị, và như thế khá nóng tác động có thể vào môi trường bên trong của thuộc tính hoặc vào trong giai đoạn tế bào mầm (germ cell) của tinh trùng trong tinh hoàn. Nghiên cứu sâu hơn nữa trên cùng một nghiên cứu, các tác giả quan sát thấy thường xảy ra ở tế bào Sertolli (một tế bào sinh tinh), và tình trạng giảm thiếu tinh trùng có thể là do tác động chọn lọc của thuốc lên sự phát triển của tế bào mầm. có lẽ qua trung gian là các tế bào SertolH gây nên tình trạng ức chế hoạt động của các ti lạp thể (mitochondri) mà có thể ảnh hưởng đến chuỗi hô hấp tế bào gây độc tế bào trong quá trình tăng sinh tế bào mầm. Đây là một kết quả quan trọng cho việc hứa hẹn một loại thuốc tránh thai tạm thời cho nam giới ra đời. Trên thực tế, các khoa học gia ở New Dehli đang chuẩn bị tiến hành thử nghiệm thuốc trên những người tình nguyện.

– Tác dụng lên thai nghén của đu đủ.

Như đã nêu trên, rất nhiều người dân ở các nước châu Á tin rằng đu đủ non có khả năng gây sảy thai. Theo một nghiên cứu trên chuột ở Ấn Độ, người ta cho chuột đang mang thai ăn (không ép buộc) các loại quả cây khác nhau thì kết quả cho thấy rằng quả đu đủ non có tác dụng ngăn các chu kỳ động đực và gây sảy thai. Mức độ sảy thai giảm xuống khi cho chuột ăn loại quả đu đủ chín. Một nghiên cứu khác về tác dụng trên trương lực tử cung, người ta đã thử nghiệm chất chiết xuất từ nhựa đu đủ (papaya latex extract, PLE) trên tử cung thực nghiệm chuột ở các chu kỳ động đực và thai nghén khác nhau. Kết quả cho thấy tác động của PLE gây co thắt tử cung xảy ra mạnh nhất là ở các giai đoạn sau của thai kỳ, tương ứng với kỳ estrogen đạt được nồng độ cao nhất. Nghiên cứu này cũng rút ra được tác động gây co thắt tử cung của PLE là một tác động phối hợp của các enzyme, alkaloid và các chất khác, hoạt động chủ yếu vào quần thể thụ thể (receptor) alpha adrenergic của tử cung ở các giai đoạn khác nhau. Một nghiên cứu mới gần đây nhất cũng trên chuột, loài Sprague-Dawley ở 4 giai đoạn thai nghén khác nhau, nhóm chứng chỉ dùng nước. Kết quả cho thấy rằng nên sử dụng nước quả đu đủ chín thì các nhóm nghiên cứu không có khác biệt gì với nhóm chứng về ảnh hưởng co thắt cơ trên tử cung.