Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm, Phòng trừ Bệnh Hại Nấm Rơm An toàn Đạt Chuẩn Quốc Gia

Nấm rơm là loại nấm trồng quen thuộc ở Châu Á, nhất là vùng Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới. Nó được trồng từ thời xa xưa, được phát triển mạnh ở Trung Quốc từ 2 thế kỷ trước CN. Số liệu chính thức ghi nhận năm 1822 ở Quảng Đông có trồng nấm rơm cung cấp cho các bữa tiệc của Hoàng đế. Nấm rơm có giá trị dinh dưỡng cao, được dùng trong nhiều món ăn cao cấp. Ngày nay nấm rơm được xuất nhiều sang các nước Âu Mỹ. Năm 1983, sản lượng nấm rơm trên thế giới đạt 50.000 tấn (chưa kể Việt Nam).

Nấm rơm cũng là loại nấm thông dụng nhất, được trồng nhiều nhất và rộng khắp từ Nam tới Bắc ở nước ta. Từ lâu một số nông dân Nam bộ có tập quán chất đống rơm rạ xen với chuối cây chặt khúc để vào mùa mưa thu hái nấm. nửa cuối những năm 60 với sự du nhập của kỹ thuật làm meo giống nấm nghề này được phát triển mạnh. Sau năm 1975 nghề trồng nấm rơm được lan rộng khắp các tỉnh phía Nam, sản lượng đáng kể nhưng chưa được thống kê chính xác. Hiện nay, nông dân nhiều vùng có kỹ thuật trồng nấm rơm ngoài trời tốt, trồng được quanh năm cả vào mùa mưa trái vụ. Tuy nhiên nghề trồng nấm rơm ở nước ta còn có một số nhược điểm:

-Trồng nấm rơm trong nhà theo kiểu công nghiệp, một kỹ thuật tiên tiến hơn đang được ứng dụng rộng rãi ở các nước Đông Nam Á, chưa được phát triển.

-Việc cung cấp meo giống nấm rơm chưa thật ổn định chắc chắn và chưa thỏa mãn nhu cầu.

-Sự hỗ trợ đồng bộ về nhiều mặt chưa được tiến hành như chưa có hướng dẫn cụ thể và cung cấp phương tiện để phòng trừ sâu bệnh, hoặc hướng dẫn chế biến.

Về kỹ thuật trồng, nấm rơm thuộc vào loại dễ trồng nhất, nhưng đồng thời cũng là loại nấm mà việc đưa năng suất lên cao khó nhất.

Các đặc điểm hình thái Nấm Rơm

1.Phân loại học nấm rơm

Theo Singer (1975) nấm rơm nằm trong hệ thống phân loại như sau:

Lớp nấm đảm (Basidiomycetes)

Lớp phụ đồng đảm khuẩn (Homobasidiomycetes) Bộ Agaricales Họ Plutaceae Giống Volvariella

Họ Plutaceae có đặc điểm bào tử màu hồng và giống Volvariella có đặc trưng bởi vỏ bao (volve) bọc cả chân lẫn mũ nấm. Việc phân biệt giữa các loài của nấm rơm với nhau chưa rõ ràng. nấm rơm hiện được nhiều nơi trồng là Volvariella volvacea (Bull.ex Fr.). Còn có loài Volvariella esculenta. Ở An Độ dùng tên Volvariella diplasia.Vì màu sắc mũ nấm dễ thay đổi do chiếu sáng nên chưa khẳng định được chắc chắn các loài kể trên là riêng biệt. Loài Volvariella bombycina mọc trên gỗ mục, mũ nấm có màu vàng lúa có vảy sợi nên phân biệt rõ với các loài kia.

2. Chu trình sống nấm rơm

Chu trình sống của nấm rơm bắt đầu từ đảm bào tử (basidiospore) (hình 3.1). Đảm bào tử có màu nâu hồng nên khi nấm già dưới mũ nấm các phiến có màu nâu hồng. Đảm bảo tử chỉ chứa 1/2 số nhiễm sắc thể (n) so với các tế bào khác của cái nấm (2n). đảm bào tử nẩy mầm tạo ra tơ sơ cấp có tế bào chứa n nhiễm sắc thể. Các sợi tơ sơ cấp có thể tự kết hợp với nhau tạo thành tơ thứ cấp tế bào có 2n nhiễm sắc thể. Tơ thứ cấp tăng trưởng dẫn đến sự tạo thành quả thể. Tơ thứ cấp có thể tạo thành bì bào tử (chlamydospore) (còn gọi là hậu bào tử hoặc bào tử vách dày) là bào tử sinh sản vô tính có 2n nhiễm sắc thể. Bì bào tử có sức chịu đựng cao với điều kiện bất lợi cao hơn sợi tơ nấm. chúng được tạo thành nhiều khi sợi tơ già hoặc môi trường kém dinh dưỡng. các bì bào tử nẩy mầm cho tơ thứ cấp 2n.

Quá trình hình thành quả thể ở nấm rơm qua các giai đoạn sau: đầu đỉnh ghim (nụ nấm), hình nút nhỏ, hình nút áo, hình trứng, hình trứng kéo dài hay hình chuông và nở xòe. Khi nấm nứt bao trên các phiến mỏng phía dưới mũ nấm diễn ra quá trình hợp nhân và phân chia giảm nhiễm (số lượng nhiễm sắc thể từ 2n cho ra 4 tế bào có n nhiễm sắc thể) để tạo thành 4 đảm bào tử. Quá trình đó được gọi là quá trình tạo bào tử (sporulation). Các đảm bào tử gặp điều kiện thuận lợi nẩy mầm và như vậy chu trình sống khép kín.


Các đặc điểm sinh lý của Nấm Rơm

1. Dinh dưỡng nấm rơm mang lại

Tên gọi nấm rơm có được do thường gặp nó mọc trên rơm rạ lúa nước. hiện nay ở nước ta và các nước, rơm rạ là nguồn nguyên liệu chủ yếu để trồng nấm rơm. Những công trình nghiên cứu trên nhiều loại nguyên liệu khác nhau cho thấy nấm rơm có khả năng mọc, nhưng trừ bông phế thải, rơm rạ lúa nước cho năng suất cao nhất.

Các thí nghiệm được tiến hành ở nhiều nước khác nhau, không cùng giống nấm, trên nguyên liệu không như nhau nên có chênh lệch và đôi khi mâu thuẫn. Tuy nhiên từ nhiều kết quả có điểm khẳng định được là nấm rơm trồng trên bông phế thải cho năng suất cao nhất. Vì bông chứa nhiều cellulose nên người ta cho rằng nguồn dinh dưỡng carbon chủ yếu của nấm rơm là cellulose và hemicellulose. Thí nghiệm đánh giá rơm rạ trước và sau khi trồng nấm rơm cho thấy trong 15% trọng lượng khô mất đi sau khi trồng thì 8% là cellulose, 4% là hemicellulose. Như vậy 55% cellulose và 27% hemicellulose được sử dụng trong tổng số chất khô bị mất khi trồng nấm rơm.

Nấm rơm có khả năng sử dụng tốt nguồn carbon là tinh bột. Điều này dễ hiểu vì các loại meo nấm đều có thể sản xuất từ hạt chứa tinh bột.Nấm rơm i1t hoặc không sử dụng lignin điều này khác hẳn nấm bào ngư và nấm meo là các loại nấm phá gỗ. Loài Volvariella bombycina mọc trên gỗ mục có thể phân giải lignin.

Các nghiên cứu về tỉ lệ C/N thì không thống nhất và đôi khi khác nhau rất xa. Có ý kiến cho rằng tỉ lệ C/N ở khoảng 50 là tốt hơn cả, người khác cho là 80.

Để tăng thêm N cho nguyên liệu trồng người ta có thể bổ sung thêm đạm vô cơ và hữu cơ. Kết quả cho thấy đạm hữu cơ có tác dụng tốt hơn đối với nấm rơm. Các chất bổ sung thường được dùng là cám phân gà, bột đậu, bùn cống và các phế liệu nông nghiệp khác. các chất này làm tăng thêm đạm, vitamin hoặc chất khoáng cho nguyên liệu. Phân gà và bùn cống đều giàu đạm, ngoài ra bùn cống còn giàu phostpho.

Thử nghiệm các chất kích thích tăng trưởng như acid gibberellic, Kinetin, acid 2,4 dichlorophenolacetic, acid indoleacetic với nồng độ 0,001% cho thấy chỉ có acid gibberellic tác dụng tốt, còn các chất khác kìm hãm. Gibberellic do bộ môn Vi sinh sản xuất cũng có tác dụng kích thích ở nồng độ thích hợp.

2. Các yếu tố môi trường

Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường chủ yếu có thể tóm tắc ở bảng dưới đây.

Bảng 1. Anh hưởng các yếu tố môi trường đối với nấm rơm (theo Delmas)

Nấm rơm không đòi hỏi nhiều ánh sáng, nhưng cần có đủ yếu mới hình thành được quả thể. Trong thí nghiệm hệ sợi tơ phát triển tốt ở pH=7. Tuy nhiên thực tế cho thấy nấm rơm mọc tốt ở pH cao hơn. Khi làm meo dùng tỉ lệ vôi cao hoặc đem rơm rạ ngâm nước vôi trước khi đem trồng đều có tác dụng tốt đối với nấm rơm.

Đặc biệt phức tạp hơn cả là mối quan hệ giữa hệ sợi tơ nấm rơm với nhiệt độ, pH và các vi sinh vật khác trong đống nguyên liệu trồng nấm. thí nghiệm cho thấy nếu xếp rơm rạ đã ngâm nước thành đống 1m x 1m x 0,5m thì nhiệt độ ở giữa đống sẽ đạt 44oC vào ngày thứ tư rồi hạ xuống còn 33oC cho đến ngày thứ 15. Nếu đống rơm rạ lớn hơn, nhiệt độ có thể lên đến 80oC. Cũng vào ngày thứ 4 pH có thể tăng thêm một ít (pH=8) rồi hạ xuống 7. Trong nguyên liệu trồng nấm có các vi sinh vật như vi khuẩn, nấm mốc và các nấm khác. Người ta chia chúng thành 3 nhóm theo tiến trình thay đổi nhiệt độ của compost. Nhóm thứ nhất gồm các mốc Aspergillus và Mucor được gọi là các vi nấm ăn đường , chúng sử dụng các đường tự do và xuất hiện sớm nhất. Nhóm thứ 2 xuất hiện tiếp theo gồm các nấm chịu nhiệt như Aspergillus fumigatus.

Chaetomium thermophile và Humicola. Nhóm thứ 3 gồm có nấm gió Coprinus cinereus và nấm rơm.

Các bào tử nẩy mầm tốt ở nhiệt độ cao và môi trường kiềm. Với pH = 7,5 ở 30oC. sợi tơ của nấm rơm chịu được 45oC trong vòng 24 giờ. Như vậy nhiệt độ cao của đống rơm rạ ủ lúc đầu chỉ kích thích bào tử nẩy mầm chứ không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của hệ sợi tơ nấm. Những nấm tạp có nhiều tác động xấu đến sự tăng trưởng của nấm rơm :

– Tiết ra các chất cản trở sự tăng trưởng của sợi nấm rơm ở pH thấp. Mốc đen Aspergillus niger tiết chất này ở khoảng pH = 4,5 – 7,5. Aspergillus fumigatus và Coprinus cenereus tiết các chất ở pH = 6 và 4,5.

– Các nấm tạp tăng trưởng nhanh ở pH thấp (4,5). Aspergillus còn lên men đường tạo acid làm hạ pH.

Bản thân sự tăng trưởng của hệ sợi tơ nấm rơm giảm cùng với sự giảm pH.

Các số liệu trên giúp dễ hiểu vì sao trồng nấm rơm cần ngâm vôi, tưới nước vôi để có pH cao.

Trong đống ủ rơm ra, nấm gió Coprinus có cùng nhu cầu về các yếu tố sinh khối giống nấm rơm. Chúng xuất hiện sớm hơn và điểm khác biệt rõ nhất là nhu cầu đạm (N2) cao hơn nấm rơm.

Sự dư thừa đạm dù ở dạng nào đều làm nấm gió mọc tốt hơn và giảm năng suất nấm rơm. Kết luận này không mâu thuẫn với thí nghiệm bổ sung phân gà và bùn cống, vì ở đó thêm 5% đá vôi nghiền duy trì pH cao, lại trong điều kiện có hấp khử trùng. Trồng nấm ngoài trời nếu muốn bổ sung dinh dưỡng, chỉ nên thêm vào lúc hệ sợi tơ nấm rơm đã choáng hết rơm rạ đã qua ủ đống.

Phương pháp trồng Nấm Rơm

Nấm rơm có thể trồng công nghiệp trong nhà và có năng suất cao nhất, nhưng rất dễ nhiễm. Trồng nấm ngoài trời kỹ thuật đơn giản hơn, nhưng bản thân hệ sợi tơ nấm rơm lại tồn tại và phát triển trong những điều kiện môi sinh phức tạp hơn nhiều. Hệ sợi tơ nấm rơm không những phải chịu ảnh hưởng giao động của thời tiết, mà còn trong mối quan hệ với các vi sinh vật và nấm tạp. Việc phòng ngừa sâu bệnh khó thực hiện hơn.

Do điều kiện khí hậu, đất đai, nguyên liệu từng nước, từng nơi có khác nhau nên các phương pháp trồng không giống nhau. Vì vậy việc thử nghiệm là tích lũy kinh nghiệm để chọn phương pháp thích hợp cho từng địa phương và từng thời kỳ trong năm là cần thiết.

Nguyên liệu trồng nấm rơm rất đa dạng. Nguyên liệu thường dùng là rơm rạ lúa không bị nhiễm mặn. Nguyên liệu thật khô để một năm trồng tốt. Rơm rạ lúa nếp tốt hơn rơm rạ lúa mùa. Rơm rạ lúa thần nông cũng dùng trồng nấm được nhưng năng suất kém, phải ngâm lâu hơn để trôi bớt các thuốc trừ sâu và ủ lâu để rơm rạ mềm dễ phân hủy cung cấp dinh dưỡng cho nấm. Có thể trồng nấm rơm bằng nhiều loại chất xơ thực vật khác như cây lục bình khô, lá chuối khô, thân cây đậu, bã củ chuối (dong riềng) sau khi làm miếng,…

Hiện nay ở TPHCM và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có 2 phương pháp trồng phổ biến :

– Phương pháp cũ có đốt mô nấm có từ lâu ở Nam bộ nên còn gọi là phương pháp Nam Bộ.

– Phương pháp mới được du nhập sau này không đốt mà ủ đống rơm rạ trước khi xếp luống.

1. Phương pháp có đốt luống

Trước đây, phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở các vùng trồng nấm của Nam Bộ. Hiện nay phương pháp này được áp dụng ở Bình Chánh TP HCM, Long An và một số nơi. Điểm độc đáo của phương pháp này so với các nước là có đốt mô nấm.

Nguyên liệu thường dùng là gốc rạ lúa không bị nhiễm mặn. Nguyên liệu thật khô để một năm trồng tốt. Thường nấm rơm được trồng trên luống có bề ngang 7080cm đắp cao giữa nhô lên để khỏi đọng nước và nện. Cần rắc vôi bột lên luống đất để diệt sâu bọ, côn trùng và mầm bệnh. Nơi đã trồng nấm nhiều lần nên sử dụng thuốc sát trùng mạnh hơn để diệt côn trùng hại và mầm bệnh.

Rạ thấm nước nhanh hơn rơm, có thể ngâm 2-3 giờ với nước vôi 1% (1kg vôi bột trong 100l nước). Có thể không ngâm, vừa rưới nước vừa đậm cho rạ ngã màu, sau đó mới tưới nước vôi. Rơm cần ngâm lâu hơn 3-4 giờ, có thể 12-18 giờ.

Có thể sau ngâm chất đống ủ một vài ngày để cho sự thấm nước được đều và độ ẩm giữa các phần được cân bằng tốt hơn, rồi mới đem xếp mô nấm.

Khi xếp gốc quay ra bìa mô, bó trước ngược đầu bó kế tiếp (hình 3.3 và 3.4). Đầu ló ra cách bìa nền đất khoảng 10cm. các bó rơm rạ cứ xếp nối kề nhau theo chiều dài mô tùy ý. xếp lớp thứ nhất xong dậm cho dẻ rồi gieo meo. Meo gieo từng cụm cách nhau 15-20cm, cách bìa mô 7-10cm và nhét sâu xuống 1-2cm. sau khi gieo meo xếp ”lớp cơi” bằng rơm ẩm theo chiều dọc của luống dày 1 – 2 cm. Các lớp rạ thứ 2, 3, 4 được xếp tương tự với đầu hơi thụt vào một chút để mô có hình thang. Lớp trên cùng thường cấy meo sâu xuống 2 – 3cm và cách bìa mô nhiều hơn. Lớp cuối cùng phủ dọc theo mô đều trên bề mặt và dày hơn (khoảng 2-3cm). tùy thời tiết xếp 3 hay 4 lớp: mùa nắng 3 lớp, mùa mưa 4 lớp. xếp mô xong phơ nắng 1-2 ngày tùy nắng nhiều ít để lượng nước dư thừa được bốc ra, cân bằng độ ẩm giữa các phần trong mô, để khô rơm ở bìa mô. Tiếp theo trải rơm trên phủ khắp 5 bề mặt mô nấm rồi đốt mô. Sau khi lớp rơm vụn cháy hết, tưới nước đều khắp các mặt mô để tro bám vào mô nấm và thêm ẩm cho bìa mô. Đốt mô có nhiều tác dụng tốt:

– Tăng nhiệt độ cho mô nấm. khi rơm rạ được thấm nước bà chất đống trong đó xảy ra các quá trình phân hủy làm tăng nhiệt độ. Nhiệt độ cao giúp cho sự phân hủy rơm rạ tốt hơn làm thức ăn cho sợi tơ nấm. nhiệt độ cao hạn chế các vi sinh vật có hại cho nấm, tạo thuận lợi cho các vi sinh vật chịu nhiệt phát triển.

– Sát trùng bề mặt mô nấm. bề mặt mô nấm ẩm lại tiếp xúc nhiều với không khí nên là môi trường thuận lợi cho nhiều loại vi sinh vật phát triển. Nước bốc hơi làm bề mặt mô nấm không tăng nhiệt độ lên cao. Meo nấm nằm sâu bên trong phải có thời gian mới mọc đến bìa mô. Đốt mô nấm có tác dụng diệt các vi sinh vật ở bìa mô và cả các sâu bọ côn trùng bám phía ngoài.

-Tăng chất khoáng và pH. Khi rơm rạ được đốt các chất hữu cơ bị cháy thành khí CO2 bay hơi, còn lại tro chứa nhiều chất khoáng. Trong tro có nhiều kali làm tăng pH môi trường.

Đốt mô có nhược điểm là tốn nhiều rơm để đốt và khi thu hái nấm bị dính tro.

Phương pháp cải tiến: không làm áo mô chỉ phủ rơm cọng lên khi xuất hiện nấm đầu đinh ghim để giữ ẩm cho quả thể.

Tiếp theo làm áo mô: Trên bề mặt mô rải rơm vụn, phía ngoài đậy bằng rơm được xếp lại thành tấm. Có nơi vào lúc lạnh đậy nylon sát lên mô, bên ngoài phủ rơm. Có người dùng nylon điều chỉnh nhiệt độ: ban đêm và sáng sớm lạnh phủ nylon, trưa nóng bỏ ra để hạ nhiệt. Bằng cách này có thể giảm tối thiểu giao động nhiệt độ trong mô nấm và giữ ở mức thích hợp nhất.

Thường đến ngày thứ 4 nhiệt độ trong mô thích hợp cho sự tăng trưởng củ hệ sợi tơ. Giai đoạn nuôi tơ kéo dài 8-9 ngày. Thời gian này càng ít tác động đến mô nấm càng tốt. Cần kiểm tra độ ẩm bằng cách rút cọng ra vắt nếu có nước ứa ra là vừa, không ứa thì khô, nước nhỏ giọt là quá ẩm. Nếu khô tưới ít và đều trên lớp rơm vụn phủ ngoài. Nếu quá ẩm dở áo mô cho nước bốc hơi bớt. Đối với các giống nấm dài ngày, thời gian nuôi tơ có thể lâu hơn.

Cuối giai đoạn nuôi tơ cần chuẩn bị cho nấm ra quả thể. Hệ sợi tơ nấm đã mọc choáng hết compost nên có thể bổ sung dinh dưỡng. Rút bớt rơm phủ cho thông thoáng hơn và để ánh sáng lọt vào trong mô nấm. tưới nước hạ nhiệt độ và bổ sung Lúc nấm tượng nụ khi tưới, nên tưới trên áo mô, giữ sao không đọng nước và bề mặt ngoài mô không khô. Như các loại nấm khác, giai đoạn nuôi tơ của nấm rơm không cần ánh sáng, nhưng ánh sáng cần cho tượng nụ và ít bị bệnh.

2. Phương pháp ủ đống

Phương pháp này đang được sử dụng rộng rãi hơn ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, có ưu điểm :

– Sử dụng rơm sau khi tuốt lúa, không tốn công nhổ gốc rạ.

– Ủ đống tạo điều kiện thích hợp cho sự phát triển tơ nấm.

3. Phương pháp trồng nấm rơm trong nhà của Việt Nam

Trồng cách này vẫn làm áo, có thể đốt mô hoặc không, như trồng ngoài trời, khác là mô nấm nấm đặt trong nhà nên khống chế các yếu tố môi trường tốt hơn. Có thể trồng nhiều tầng trên giàn và sử dụng hơi nóng khử trùng nguyên liệu.

a. Khuôn gỗ: Có thể dùng khuôn to rộng 60cm x dài 100cm x cao 80cm hoặc khuôn nhỏ rộng 40cm, dài 60cm, cao 50cm (hình 3. 19).

b. Cách gieo meo nấm:

Khuôn hở mặt trên và đáy. Đáy rộng hơn mặt trên nên các mặt bên có hình thang.

Rơm rạ ngâm vào nước có pha 0,1% với dẫm đạp cho ngã màu sậm rồi vớt ra để vô khuôn. Trấu cũng ngâm như vậy vớt ra để ráo nước xếp vô khuôn.

Khuôn đặt trên nền nhà hoặc kệ trải một lớp trấu dày 3-5cm rồi rắc meo. meo gieo từng cụm cách nhau 15 – 20cm, cách bìa 5cm. Mỗi khuôn xếp 4 lớp trấu, 4 lớp rơm rạ.(hình 13). Khi xếp nguyên liệu vào khuôn nên lấy tay nén chặt để lúc nhất khuôn lên rơm rạ và trấu không bể ra.

Sau khi nhấc khuô gỗ ra lấy nylon phủ lại giữ nhiệt độ 35oC. trong 7 ngày đầu không cần tưới nước, nhưng cần quan sát tơ nấm. nếu xuất hiện tơ nấm lạ cần rải vôi dập ngay. Ngày thứ 7 rạch nylon ra và tuới cho mỗi mô 2 lít nước. tưới đẫm mặt mô và 4 bên xong đậy lại. Ngày 8-9 cần nhấc tấm nylon cho thoáng để nấm ra nụ.

Thực tế ở nhiều nước cho thấy trồng nấm rơm trong nhà có hấp khử trùng nguyên liệu đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với trồng ngoài trời. Do đó phương pháp này ngày càng được mở rộng ở nhiều nước. nó cho phép trồng nấm rơm quanh năm với sản lượng ổn định. Tuy nhiên, nó đòi hỏi đầu tư vốn ban đầu nhiều hơn, quy trình kỹ thuật phức tạp hơn và một điều kiện không thể thiếu được là phải có đủ thuốc sát trùng để xử lí nhà trồng sau mỗi đợt nhằm chống nhiễm tạp.

Sâu bệnh Nấm Rơm – Các Phòng và trị bệnh

1. Phòng bệnh

Phòng bệnh nấm là ngâm, nhúng rơm rạ vào nước vôi. Lúc lựa meo cũng là phòng bệnh vì lựa meo bị nhiễm sẽ làm cho cả luống nấm bị nhiễm. Lựa nơi trồng nấm tránh xa cho đỡ dơ bẩn, tránh dùng nguồn nước bẩn là phòng bệnh cho nấm rất hữu hiệu. Nơi trồng nấm ít người lui tới, không cho gà bới, bắt ốc sên, cuốn chiếu, làm đất kỹ trước khi lên luống rắc vôi cho chết trứng sâu bệnh cũng là phòng bệnh cho nấm.

Lựa rơm rạ không mốc meo, phơi khô mới đem trồng nấm là tránh bệnh cho nấm đúng mức.

2. Nấm tạp

Trồng nấm rơm, nếu thấy những chấm trắng sáng ở ngày thứ 9-10, phát triển nhanh trong 1-2 ngày sau và trên chóp có 1 điểm đen hay xám tro đó là nụ nấm rơm. Ngược lại điểm trắng bằng đầu đinh ghim nhưng hơi nhọn ở chóp, mọc trước khoảng ngày thứ 7-8 là nụ nấm gió. Thấy nấm gió cần nhổ bỏ sớm.

Nếu thấy điểm trắng nhưng tròn, 2-3 ngày sau cũng không mà ngã màu vàng, bóp thấy cứng, đó là nấm trứng cá. Nấm này thường xuất hiện sớm, khoảng ngày thứ 6 rơm rạ.(hình 13). Khi xếp nguyên liệu vào khuôn nên lấy tay nén chặt để lúc nhất khuôn lên rơm rạ và trấu không bể ra.

Sau khi nhấc khuô gỗ ra lấy nylon phủ lại giữ nhiệt độ 35oC. trong 7 ngày đầu không cần tưới nước, nhưng cần quan sát tơ nấm. nếu xuất hiện tơ nấm lạ cần rải vôi dập ngay. Ngày thứ 7 rạch nylon ra và tuới cho mỗi mô 2 lít nước. tưới đẫm mặt mô và 4 bên xong đậy lại. Ngày 8-9 cần nhấc tấm nylon cho thoáng để nấm ra nụ.

Thực tế ở nhiều nước cho thấy trồng nấm rơm trong nhà có hấp khử trùng nguyên liệu đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với trồng ngoài trời. Do đó phương pháp này ngày càng được mở rộng ở nhiều nước. nó cho phép trồng nấm rơm quanh năm với sản lượng ổn định. Tuy nhiên, nó đòi hỏi đầu tư vốn ban đầu nhiều hơn, quy trình kỹ thuật phức tạp hơn và một điều kiện không thể thiếu được là phải có đủ thuốc sát trùng để xử lí nhà trồng sau mỗi đợt nhằm chống nhiễm tạp.

3. Bệnh hoại khô (Verticillium)

Hiện nay ở miền Nam, bệnh này lây lan rất mạnh. Thông thường dễ nhận dạng, bệnh nất là nấm đang lớn. Tai nấm bị bệnh không có hình dạng rõ ràng, đặc trưng cho một tai nấm mà sù sì, méo mó, chóp nấm bị nứt nẻ, màu sắc không mượt mà, bàng bạc hoặc lốm đốm, không được người tiêu dùng ưa chuộng. Bệnh này có điểm đặc biệt là tai nấm tuy có hình dạng lạ nhưng không mềm ướt mà vẫn khô. Trừ bệnh này rất khó, tạm thời có thể dùng CaCl2 hoặc formol 1,5-2% để phun sau khi thấy xuất hiện bệnh.

4. Bệnh vàng mặt (niêm khuẩn Myxomycètes)

Mặt mô nấm xuất hiện màu trắng hồng, sau chuyển sang vàng tươi, phủ một lớp dày, nhày nhụa trên mặt mô. Bệnh gây bất thụ lớn nếu để lây lan. Khi thấy mô nấm có bệnh, rắc vôi bột lên toàn bộ mô rồi dẹp bỏ luôn mô này để tránh lây sang các mô khác.

5. Bệnh bông cải

Nụ nấm mới tượng không lớn lên được mà chỉ chẻ ra nhiều nhánh thoạt trông như dạng sang hô nhỏ. đây là bệnh khó trị tận gốc, dễ làm thất thu. Chỗ trồng đã bị bệnh này cần được đốt rơm rạ kỹ, cuốc luống, rắc vôi lại để sang năm bệnh không tái diễn.

6. Tuyến trùng

Tuyến trùng trong vắt khó nhìn thấy bằng mắt thường nhưng có thể nhận biết được là thấy tai nấm bị nhớt, bị nhũn dùng formol 2-5% để phun.

Nấm rơm còn bị cuốn chiếu bị nhiều côn trùng, nấm khác phá hoại xong những thứ trên là thường gặp, cần hết sức lưu ý. năng suất của nấm rơm thay đổi từ 5-16% trọng lượng nguyên liệu. Sau khi trồng 2 tuần là bắt đầu thu hoạch.

Tóm lại nấm rơm là loại nấm dễ trồng, trồng nhiều ở nước ta, được thị trường thế giới chấp nhận. cần tổ chức tốt mạng lưới cung cấp meo giống tốt rộng khắp để nhiều người trồng tận dụng nguồn rơm rạ phế thải và hàng xuất khẩu. Tuy nhiên cần ham khảo kỹ thuật các nước để nâng cao năng suất, để sử dụng nhiều hơn nữa nguồn phế liệu nông nghiệp.