Kỹ Thuật Trồng Nấm Linh Chi, Phòng trừ Bệnh Hại Nấm Linh Chi An toàn

Giá trị dược liệu của Linh chi đã được ghi chép trong các thư tịch cổ của Trung Quốc, cách đây hơn 4000 năm ( Zhao,J.D., 1994) Trong thần nông bản thảo ( đời nhà Châu cách nay khoảng 2000 năm) Linh chi còn được xếp vào loại Thượng dược. Đế đời nhà Minh ( 1590), Lý Thời Trân đã phân Linh chi thành 6 loại gọi là Lục Bảo Linh chi, đồng thời chỉ rõ đặc tính trị liệu của từng loại.

Cho đến nay Linh chi không còn giới hạn trong phạm vi đất nước Trung Quốc mà đã mang tính toàn cầu. Nếu tính thống kê, thì không dưới 250 bài báo của các nhà khoa học trên khắp thế giới liên quan đến dược tính và lâm sàng của Linh chi đã được công bố. Đặc biệt, hội nghị nấm học thế giới (7/1994) tại Vancouver, Canada đã dành riêng một hội thảo về Linh chi. Qua hội thảo, các nhà khoa học đã cùng nhất trí thành lập Viện nghiên cứu Linh chi quốc tế đặt trụ sở tại New York ( Hoa Kỳ)

Ở Việt Nam, trong các tài liệu lưu lại của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791) cũng thấy đề cập đến Linh chi . Sau đó, Lê Quý Đôn còn khẳng định, đó là nguồn sản vật quí hiếm của đất rừng Đại Nam. Trong quyển Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (1991) GS Đỗ Tất Lợi, còn mô tả chi tiết và trình bày về đặc tính trị liệu của loài nấm này, đồng thời cho rằng đây là loại Siêu thượng dược

Ở Việt Nam, nấm Linh chi được gọi là nấm Lim và phát hiện đầu tiên ở miền Bắc , bao gồm Hà Nội, Hòa Bình, Lạng Son…bởi Patouillard N.T (1890 -1928). Sau đó, Petelot A. trong “Les plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Viet Nam” tập 1 (1954) có đề cập đến loài nấm này dưới tên là nấm Lim, do tìm thấy nhiều dưới gốc cây Lim (erythrophloeum losdii oli.) Ở miền Nam, trong quyển Cây cỏ miền Nam Việt Nam (1960) GS Phạm Hoàng Hộ ghi Nấm hai loài Nấm là Ganoderma lucidum có chân và Ganoderma applanatum không có chân. Đây cũng chính là loài nấm được trình bày ở trên. Năm 1974, trong giáo trình “ bệnh cây rừng” tác giả Lê Văn Liễu và Trần Văn Mão đã mô tả khá chi tiết về hình thái cấu tạo của loài nấm Lim và cho rằng đây là loài nấm mọc khá phổ biến ở nước ta.

Đến đây có thể khẳng định nấm Linh Chi hay nấm Lim với tên khoa học là Ganoderma lucidum phân bố rộng rãi khắp Việt Nam. Không chỉ ở vùng rừng núi cao mà còn tìm thấy cả ở đồng bằng và trải dài từ Bắc chí Nam

Việc nuôi trồng nấm Linh chi được ghi nhận từ 1621 nhưng để nuôi trồng công nghiệp phải trải qua hon 300 năm sau (1936) với thành công của GS Dật Kiến Vũ Hưng ( Nhật). Năm 1971, Naoi Y. nuôi trồng tạo quả thể trên nguyên liệu là mạt cưa. Nếu tính từ năm 1979, sản lượng nấm khô ở Nhật đạt 5 tấn/năm, thì đến năm 1995, sản lượng lên gần 200 tấn/năm. Như vậy trong vòng 16 năm, sản lượng lên gần 200 tấn/năm. Như vậy trong vòng 16 năm, sản lượng nấm Linh chi của Nhật đã tăng gấp 40 lần. Qui trình nuôi trồng ở Nhật sử dụng chủ yếu là gỗ khúc và phủ đất nên cho tai nấm to và năng suất cao nhưng lại dễ bị sâu bệnh và cạn kiệt nguồn gỗ. Phương pháp nuôi trồng ở Thượng Hải, với việc sử dụng mạt cưa và một số phế liệu của nông lâm nghiệp, là cải tiến lớn so với cách trồng của Nhật. Nguyên liệu được cho vào chai hoặc lọ, khử trùng và cấy giống. Các chai hoặc lọ được xếp lên nhau thành nhiều lớp trên mặt đất, để tưới và thu hái nấm.

Ở Việt Nam, nấm Linh Chi được nuôi trồng bằng mạt cưa cao su và một số thành phần ph61 liệu của nông nghiệp. Phương pháp trồng phổ biến là túi nhựa ( bao nylon) Quá trình nuôi ủ và tưới đón nấm được thực hiện trên các dàn kệ và dây treo. Ngoài việc tránh nguồn bệnh từ đất, còn tăng được diện tích nuôi trồng.

Nếu chỉ tính riêng TPHCM hiện nay tổng sản lượng nấm Linh Chi nuôi trồng từ 20-25 tấn khô/ năm.

Sinh học của nấm Linh Chi

❖ Đặc điểm chung:

Linh chi thuộc nhóm nấm lớn và rất đa dạng về chủng loại. Từ khi xác lập thành một chi riêng, là Ganoderma Karst.(1881) đến nay tính ra có hơn 200 loài được ghi nhận, riêng Ganoderma lucidum đẽ có 45 thứ.

Ngoài việc phân loại theo hình thái giải phẫu, còn có thể sắp xếp nấm Linh chi dựa theo các đặc điểm sau:

a. Đặc điểm phát triển quả thể

– Nhóm đa niên: một tai nấm phát triển trong nhiều năm

– Nhóm hằng niên: tai nấm phát triển từ 1-6 tháng

b. Vị trí của nấm mọc trên cơ chất chủ:

– Nhóm mọc cao: tai nấm mọc từ gốc lên đến ngọn cây

– Nhóm mọc gần đất: nấm mọc từ gốc cây chủ

– Nhóm mọc từ đất: tai nấm mọc từ rễ cây hặoc xác mùn

c. Nhiệt độ ra nấm:

– Nhóm nhiệt độ thấp: tai nấm mọc ở nhiệt độ 20-230C

– Nhóm nhiệt độ trung bình: tai nấm mọc ở 24-260C

– Nhóm nhiệt độ cao: tai nấm mọc ở 17-300C

Vì vậy cho thấy Linh chi không những đa dạng về chủng loại mà còn đa dạng về cả sinh thái. Đây là loại nấm mang tính toàn cầu.

❖ Hình thái cấu tạo:

Nấm Linh chi có chung một đặc điểm là tai nấm hóa gỗ ; mũ xòe tròn, bầu dục hoặc hình thận, có cuống ngắn , dài hoặc không cuống. Mặt trên mũ có vân đồng tâm và được phủ bởi lớp sắc tố bóng láng như verni. Mặt dưới phẳng, màu trắng hoặc vàng; có nhiều lỗ li ti, là nơi hình thành và phóng thích bào tử nấm. Bào tử nấm dạng trứng cụt với 2 lớp vỏ , giữa 2 lớp vỏ có nhiều gai nhọn nối từ trong ra ngoài.

Dựa theo màu sắc mũ nấm, Lý Thời Trân (1590) phân biệt thành sáu loại Linh Chi với tên gọi tương ứng: Linh chi trắng ( Bạch chi hay Ngọc chi), Linh chi vàng ( Hoàng chi 8 hay Kim chi) Linh chi xanh ( Thanh chi hay Long chi) Linh chi đỏ ( Xích chi hay hồng chi) Linh chi tím ( Tử chi) Linh chi đen ( Hắc chi hay huyền chi)

Dược tính của nấm Linh chi

Tài liệu cổ nhất nói tương đối cụ thể về khả năng trị liệu của Linh chi cũng của Lý thời Trân (1595). Theo tác giả, trong 6 loại Linh chi thì mỗi loại có đặc tính riêng:

Bảng 1: Đặc điểm của Lục Bảo Linh chi theo Lý Thời Trân

Theo y học cổ truyền thì Linh chi có những công dụng:

– Kiện não: làm cho bộ óc tráng kiện

– Bảo can: bảo vệ gan

– Cường tâm: tăng sức cho tim

– Kiện vị: củng cố dạ dày, hệ tiêu hoá

– Cường phế: thêm sức cho phổi

– Giải độc: giải toả trạng thái nhiễm độc

– Giải cảm: giải toả trạng thái dị cảm

– Trường sinh: sống lâu, tăng tuổi thọ

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nhiều khảo cứu trên thế giới tập trung phân tích và tìm hiểu các thành phần hóa học có hoạt tính trong nấm Linh chi

Bảng 2: Thành phần hóa học của nấm Linh Chi ( T.Quốc và VN)

(*) Viện Pasteur TPHCM

(**) Phân viện dược liệu TPHCM

Bảng 3: Thành phần các chất có hoạt tính ở Linh Chi

* Đặc tính sinh học:

– Hình Dạng và màu sắc:

Nấm  linh chi ( quá thể) Cây Nấm gồm 2 phần: Cuống nấm và mũ nấm ( phần phiến đối diện với mũ nấm)

Cuống nấm dài hay ngắn, đính bên có hình trụ, đường kính 0,5- 3 cm

Cuống nấm ít phân nhánh, đôi khi có uốn khúc cong queo. Lớp vỏ cuống màu đỏ, nâu đỏ, bóng, không có lông, phủ suốt lên mặt tán nấm.

Mũ nấm khi còn non có hình trụ, lớn dần có hình quạt. Trên mặt nấm có vân gạch đồng tâm màu sắc từ vàng chanh – vàng nghệ – vàng nâu -vàng cam – đỏ nâu – nâu tím nhẵn bóng như láng verni. Mũ nấm có đường kính 2-15cm và dày 0,8-1,2cm, phần đính cuống thường gồ lên hoặc hơi lõm.

Khi nấm đến tuổi trưởng thành thì phân tán bào tử từ phiến có màu nâu sám.

Nhiệt độ thích hợp:

– Giai đoạn nuôi sợi: 20 -300C

– Giai đoạn quá thể: 22-280C

Độ ẩm:

– Độ ẩm cơ chất: 60-62%

– Độ ẩm không khí: 80-95%

– Độ thông khí: trong suốt quá trình nuôi sợi và phát triển quá thể, Nấm linh chi đều cần có độ thông thoáng tốt.

Ánh sáng: Giai đoạn nuôi sợi: không cần ánh sáng

– Giai đoạn phát triển quả thể: cần ánh sáng tán xạ (ánh sáng đọc được) Cường độ ánh sáng cân đối từ mọi phía.

– Độ pH: Linh chi thích nghi trong môi trường trung tính đến acid yếu ( pH 5,5-7)

– Dinh dưỡng: sử dụng trực tiếp nguồn cellulose

– Thời vụ nuôi trồng Linh chi: thời gian cấy giống là từ 15/1 đến 15/3 và từ 15/8 đến 15/9 dương lịch

Nguyên liệu và phương pháp xử lý nguyên liệu

a. Nguyên liệu:

Linh chi sử dụng nguyên liệu chủ yếu là mạt cưa tươi, khô của các laọi gỗ mềm, không có tinh dầu và độc tố. Ngoài ra còn có thể trồng Linh chi từ nguyê liệu là thân gỗ các cây thuộc họ Thân Thảo

b. Phương pháp xử lý nguyên liệu

• Phương pháp đóng túi: Mùn cưa được tạo ẩm và ủ tương tự như trong phần nấm mèo. Sau đó phối trộn thêm các phụ gia đóng vào túi sao cho khối lượng túi đạt 1,1-1,4 kg rồi đưa vào thanh trùng

• Phương pháp thanh trùng:

– Phương pháp 1: hấp cách thủy ở nhiệt độ 1000C, thời gian kéo dài 10-12h

– Phương pháp 2: thanh trùng bằng nồi áp suất ( 1210C, 1,5atm trong 90-120 phút)

Phương pháp cấy giống

❖ Phương pháp 1:

Cấy giống trên que gỗ

– Với phương pháp này cần tạo lỗ ở túi nguyên liệu có đường kính 1,8-2cm và sâu 15-17cm

– Khi cấy giống phải đặt túi nguyê liệu gần đèn cồn và túi giống, sau đó gắp từng qu ở túi giống cấy vào túi nguyên liệu

❖ Phương pháp 2:

– Sử dụng giống Linh chi cấy trên hạt. Ta dùng que cấy khều nhẹ giống cho đều khắp trên bề mặt túi nguyên liệu tránh dập nát giống

– Lượng giống: 10-15g giống cho 1 túi nguyên liệu

– Chú ý: Giống cấy phải đảm bảo đúng độ tuổi; trước khi cấy giống ta phải dùng cồn lau miệng chai giống bóc tách lớp màng trên bề mặt không được để hạt giống bị nát.

– Trong quá trình cấy, chai giống phải luôn để nằm ngang

– Khi cấy giống ta đậy nút bông lại, vận chuyển túi vào khu vực ươm

– Phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ phòng cấy giống

Phương pháp ươm túi

a. Chuẩn bị khu vực ươm

Nhà ươm túi đảm bảo các yêu cầu: sạch sẽ, thông thoáng, độ ẩm từ 75%- 85%, ánh sáng yếu, nhiệt độ 10-300C

b, Ươm túi

– chuyển nhẹ nhàng vào nhà ươm và đặt lên trên các giàn giá hoặc xếp thành luống. Khoảng cách giữa các túi 2-3cm. Giữa các gàin luống có lối đi để tiện kiểm tra.

– Trong thời gian ươm không được tưới nước, hạn chế tối đa sự vận chuyển

– Trong quá trình sợi nấm phát triển, nếu thấy có túi bị nhiễm cần loại bỏ ngay khỏi khu vực ươm đồng thời tìm nguyên nhân để có cách khắc phục:

+ nếu túi bị nhiễm bề mặt phần lớn là do thao tác cấy và phòng giống bị ô nhiễm + nếu túi bị nhiễm toàn bộ hoặc từng phần có thể là do bị thủng túi hoặc do hấp vô trùng chưa đạt yêu cầu

Phương pháp chăm sóc, thu hái Nấm linh chi

❖ Chuẩn bị các điều kiện

Nhà trồng phải đảm bảo sạch sẽ, thông thoáng, có máu chống mưa dột và chủ động được các điều kiện sinh thái như:

+ Nhiệt độ thích hợp cho nấm mọc dao động từ 22-280C + Độ ẩm không khí đạt 80-90%

+ Ánh sáng khuyếch tán ( mức độ đọc sách được) và chiếu đều mọi phía + Kín gió, trong nhà có hệ thống giàn giá để tăng diện tích sử dụng Trong quá trình chăm sóc, thu hái Linh chi có 2 phương pháp sau: a.phương pháp không phủ đất

❖ Rạch túi và tưới nước

– kể từ ngày cấy giống đến khi rạch túi ( khoảng 25-30 ngày)sợi nấm đã ăn kín đến % túi. Tiến hành rạch 2 vết rạch sâu vào trong túi 0,2-0,5 cm đối xứng trên bề mặt túi nấm. Đặt túi nấm lên giàn cách nhau 2-3cm để nấm ra không chạm vào nhau

– Từ 7-10 ngày đầu, chủ yếu tiến hành tưới nước trên nền nhà, đảm bảo độ ẩm 80-90A, thông thoáng vừa phải.

– Khi quả thể nấm bắt đầu mọc, từ các vết rạch hoặc qua nút bông thì ngoài việc tạo ẩm không khí, có thể tưới phun sương nhẹ vào túi nấm mỗi ngày từ 1-3 lần ( tùy điều kiện thời tiết) Chế độ chăm sóc như trên được duy trì liên tục cho đến khi viền trắng trên mũ quả thể nấm không còn nữa là hái được

❖ Thu hái

– Dùng dao hoặc kéo cắt chân nấm sát bề mặt túi

– Quả thể nấm sau khi thu hái được vệ sinh sạch sẽ, phơi khô hoặc sấy nhiệt độ 40-450C

– Độ ẩm của nấm khô dưới 13% theo tỷ lệ 3kg tươi thu được 1kg nấm khô

– Khi thu hái hết đợt 1 tiến hành chăm sóc như lúc ban đầu để tận thu đợt 2

– Khi kết thúc đợt nuôi trồng cần phải vệ sinh và thanh trùng nhà xưởng bằng

foormol với nồng độ 0,5-1%

❖ Phương pháp phủ đất

❖ Cách phủ đất: khi sợi nấm đã ăn kín khoảng % diện tích túi, gỡ bỏ nút bông , mở miệng túi, phủ lên bề mặt một lớp đất có chiều dày 2-3cm

❖ Chăm sóc sau khi phủ đất:

Nếu đất phủ khô cần phải tưới rất cẩn thận ( tưới phun sương)để đất ẩm trở lại. Tuyệt đối không tưới nhiều nước, nước thấm xuống nền cơ chất sẽ gây nhiễm bệnh, ảnh hưởng đến quá trình hình thành quả thể. Trong thời gian 7-10 ngày đầu ( sau khi phủ đất)cần duy trì độ ẩm không khí trong nhà đạt từ 80-90% bằng cách tưới nước thường xuyên trên nền nhà. Khi quả thể bắt đầu hình thành và nhô lên trên mặt lớp đất phủ, cần duy trì độ ẩm liên tục như trên cho đến lúc thu hái. Thời gian từ khi nấm lên đến khi thu hoạch khoảng 65-70 ngày.

Khi đó ngoài việc duy trì độ ẩm trong phòng thì ta còn phải tưới phun sương nhẹ trực tiếp trên bề mặt đất phủ 1-3 lần/ngày (tùy theo điều kiện thời tiết) mục đích để giúp đất phủ luôn duy trì độ ẩm . Việc chăm sóc như trên kéo dài cho đến khi viền trắng trên mũ nấm không còn nữa, lúc đó nấm đến tuổi thu hái.

Một vài lưu ý khi nuôi trồng nấm Linh Chi

• Tính đa dạng về chủng loại : ít có loại nấm nào có nhiều loài ( hơn 200 loài) và nhiều thứ ( chỉ riêng loài G.lucidum đã có 45 thứ) như nấm Linh chi và chắc chắn mỗi loài sẽ có dược tính khác nhau, bằng chứng Lý Thời Trân (1595) đã chia nấm làm 6 loại với đặc điểm về điều trị cũng khác nhau. Do đó, cần có tiêu chuẩn đánh giá để có thể sưu tầm và bổ sung thêm nhiều chủng, giống mới.

• Tính đặc  thù về nuôi trồng: nấm Linh chi có thể bị chi phối bởi nhiều yếu tố trong quá trình nuôi trồng như nguyên liệu, dinh dưỡng bổ sung, điều kiện khí hậu, nhiệt độ, kể cả độ ô nhiễm của môi trường xung quanh. Chất lượng nấm vì vậy có thể bị thay đổi theo nguồn nguyên liệu, theo mùa trong năm và địa điểm nuôi trồng nấm

Tóm lại với các tính chất đặc biệt như vậy nên việc tìm kiếm tiêu chuẩn để có thể đánh giá tương đối cụ thể chất lượng nấm là rất cần thiết. Nó giúp:

– Chọn chủng nấm tốt, dược tính cao cho sản xuất và chế biến

– Có qui trình nuôi trồng thích hợp để nâng cao năng suất và chất lượng nấm

– Có phương pháp chiết tách với hiệu suất tối ưu

Quy trình nuôi trồng nấm Linh chi được sơ đồ hóa như sau: