✅ Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Nghệ – Cách Phòng Trừ Sâu Bệnh

Nghệ tuy không sử dụng phổ biến như các loại cây hành, húng, kinh giới… nhưng là một gia vị đặc biệt. Nghệ thường dùng để khử mùi tanh của các món ăn bằng cá, óc, lươn. Màu vàng của nghệ cũng làm tăng tính hấp dẫn của món ăn. Món ốc hoặc lươn nấu với chuôi xanh, củ chuôi không thể thiếu nghệ. Đem phơi khô rồi nghiền nhỏ, nghệ là thành phần chính của bộ rễ, một thứ gia vị sử dụng rất phổ biến ở nhiều nước như Ân Độ, Banglađesh và cả ở Việt Nam.

Nghệ cũng là một vị thuốc nam thông dụng. Trong củ nghệ có khoảng 0,5% chất curcumin có tác dụng diệt khuẩn như một chất kháng sinh. Bôi nghệ lên vết thương làm vết thương chóng lên da non, không để lại sẹo. Bột nghệ cũng là thuốc chống viêm loét dạ dày rất tốt. Nghệ cũng dùng chữa bệnh vàng da, đau bụng cho phụ nữ sau khi sinh đẻ. Nghệ ngâm rượu để rửa vết thương, chống viêm khớp. Nghệ đã được chế thành thuốc dưới dạng bột hoặc viên nén. Ớ nước ta cây nghệ trồng được khắp nơi, từ Bắc đến Nam.

Đặc tính thực vật của cây nghệ

Nghệ là cây thân thảo, cao khoảng 0,8 – 1,0 m. Thân rễ to, hình củ tròn (thường gọi là củ), có nhiều nhánh, thịt màu vàng cam sẫm. Phần trên mặt đất thường gọi là thân, chính là các bẹ lá ôm sát nhau.

Lá to, hình trái xoan mũi mác, dài 30 – 45 cm, rộng 15 – 18 cm, màu lục nhạt, nhẩn cả 2 mặt, cuông lá có bẹ ôm sát nhau thành thân giả.

Hoa mọc thành cụm hình trụ, dài 30-40 cm, cánh hoa màu vàng, lá bắc màu xanh hoặc tím đỏ. Hai vòi nhụy màu vàng, thường lép. Bao phấn màu trắng. Quả nang, chia 3 ô.

Kỹ thuật trồng nghệ

– Làm đất: Cũng như gừng, cây nghệ là cây lấy củ nên đất cần tương đối nhẹ và tơi xốp, thoát nước. Nếu trồng ít chỉ cần một khoảnh đất nhỏ, dễ cải tạo cho thích hợp. Nếu trồng diện tích rộng để bán thì cần chọn đất cao, thoát nước và nhiều mùn.

Đất cày bừa kỹ, phơi ải, làm sạch cỏ. Lên luống cao 20 – 25 cm, rộng 1,0 – 1,2 m. Bón phân lót và đánh rạch trên luống trước khi trồng.

– Trồng nghệ: Chọn các củ nghệ tốt, không bị thôi. Tách các nhánh, mỗi nhánh trồng một hốc. Nên trồng vào đầu hoặc cuối mùa mưa khi đất có ẩm.

Trên luống xẻ thành các rạch ngang, cách nhau 30 – 40 cm, sâu 10 – 15 cm. Đặt nhánh nghệ xuống rạch, cách nhau 20 – 25 cm. Đặt củ xong lấp đất mỏng kín củ, dùng rơm rạ, cỏ khô hoặc trấu phủ lên mặt luống rồi tưới nước đủ ẩm. Sau 5-7 ngày mầm nghệ sẽ mọc. Kiểm tra trồng dặm ngay những củ bị thôi, không mọc để ruộng nghệ phát triển đồng đều.

– Bón phân, chăm sóc: Bón lót cho 1 ha 20 -25 tấn phân chuồng hoai và 300 — 400 kg super lân. Phân lót rải rồi trộn đều vào đất khi lên luống hoặc rải theo rạch. Nếu rải theo rạch thì lấp đất mỏng khoảng 5 cm sau đó mới đặt củ.

Cây nghệ trồng lấy củ chứ không lấy lá nên không để lá phát triển tốt quá. Sau khi trồng 25 – 30 ngày, cây nghệ được 5 – 6 lá thì bón thúc. Phân bón thúc chủ yếu là kali, tro bếp, bánh dầu hòa nước tưới. Nói chung không cần bón thúc phân đạm. Trường hợp cây phát triển lá nhiều quá cần cắt bớt một số lá gốc và giảm tưới nước để cây cứng lại. Trong thời gian cây sinh trưởng phát triển có thể xới đất nhẹ 2 — 3 lần và vun gốc, chú ý không làm xây xát củ khi còn nhỏ.

Đất khô quá cần tưới, còn khi mưa lớn không để ruộng đọng nước. Thường xuyên nhổ sạch cỏ.

Phòng trừ sâu bệnh cho nghệ

Sâu bệnh hại cây nghệ giông như với cây gừng. Đáng chú ý là các bệnh cháy lá và thổi củ do nấm và vi khuẩn.

Thu hoạch, bảo quản nghệ

Cây nghệ trồng sau khoảng 8-10 tháng là thu hoạch. Khi cây ngừng ra lá non, các lá già chuyển vàng và khô mép, đào gốc thấy vỏ củ có
màu vàng là đến lúc có thể thu hoạch được.

Nếu diện tích ít thì dùng cuốc, nếu nhiều thì dùng cày hai bên hàng nghệ cho bật gốc, nhổ cây, rũ đất rồi cắt lấy củ mang về. Phơi củ một vài ngày trong bóng râm, thoáng gió cho bớt ẩm rồi bảo quản. Để nghệ nơi khô ráo, mát mẻ. Những củ tốt có thể để làm giông cho vụ sau. Trong khi bảo quản thường xuyên kiểm tra loại bỏ củ thối.